|
1. KHÁI NIỆM
TÀI NGUYÊN SỐ
Tài nguyên số của một Đài truyền
h́nh (TNS) là khái niệm tương đối
rộng. Chúng ta bắt gặp TNS ở hầu hết
các hoạt động của Đài. Các tài
nguyên này có thể liệt kê như sau:
- Chương tŕnh, tư liệu truyền h́nh:
Video HD, SD, Video độ phân giải
thấp (Lowress)
- Đồ họa và ảnh tĩnh.
- Chương tŕnh, tư liệu phát thanh:
Audio
- Voice over - các kênh tiếng thuyết
minh hoặc lồng tiếng.
- Subtile- phụ đề
- Kịch bản chương tŕnh
- Tóm tắt, mô tả nội dung
- Lịch phát sóng
- Booking quảng cáo
- Danh sách khách hàng, đối tác..v.v.
Các tài nguyên đó hiện nay đang phân
tán trên nhiều máy tính khác nhau,
trên nhiều mạng khác nhau và phần
lớn không được đánh số, chỉ mục,
phân loại gây khó khăn lớn cho việc
t́m kiếm, truy xuất và quản lư và
bảo vệ tài nguyên.
Việc thiếu quản lư trung tâm đối với
TNS ngày càng gây nhiều bất cập
trong công tác quản lư và sản xuất
hàng ngày của lănh đạo và biên tập
các Đài. Với tốc độ phát triển chóng
mặt các TNS trên hệ thống tạo ra nhu
cầu bức xúc đối với việc quản lư TNS.
2. PHƯƠNG ÁN TỔ CHỨC LƯU TRỮ TÀI
NGUYÊN SỐ
a. MỐI LIÊN HỆ VÀ PHÂN LOẠI TÀI
NGUYÊN SỐ
Để tổ chức lưu trữ, trước tiên phải
nghiên cứu liên hệ giữa các nguồn
tài nguyên và trên cơ sở đó, phân
loại và t́m h́nh thức lưu trữ và tạo
chỉ mục thích hợp cho từng nguồn tài
nguyên.
Việc phân loại tài nguyên có thể dựa
trên nhiều tiêu chí khác nhau. Áp
dụng một bộ tiêu chí sẽ tạo ra một
giải pháp quản lư riêng. Việc đánh
giá ưu tiên các tiêu chí khác nhau
cũng tạo nên sự khác biệt trong giải
pháp lưu trữ.
Chúng ta cũng chỉ bàn đến các tài
nguyên số hoặc đă được số hóa. Trong
khuôn khổ bài viết, chúng ta sẽ
không bàn tới vấn đề số hóa các tài
nguyên.
Theo cách rất tự nhiên sẽ có cách
phân loại dựa theo nội dung của TNS.
Với tiêu chí đó, chúng ta sẽ có rất
nhiều loại TNS: Phim truyện, phim
tài liệu, phóng sự, kịch bản phim,
thời sự ngày, kịch bản phóng sự,
bảng chữ cuối ngày, logo.... Phân
lọai theo tiêu chí nội dung sẽ có
ích cho việc t́m kiếm. Tuy nhiên,
trong tổ chức lưu trữ, tiêu chí này
gây bất lợi ở nhiều khía cạnh và
thực tế chỉ được sử dụng khi tổ chức
lưu trữ theo cây thư mục hiện tại.
Lưu trữ theo cây thư mục theo nội
dung là phương án quản lư TNS đang
được sử dụng rộng răi ở phần lớn các
đài. Phương án này thậm chí được sử
dụng cả với các bộ lưu trữ trung tâm
có kích thước lớn nhiều chục
Tetrabyte.
Tiêu chí tiếp theo có thể là tiêu
chí về thời gian.
Phương án dựa trên tiêu chí này được
phần lớn các đài sử dụng để tổ chức
lưu trữ các chương tŕnh- TNS có
tính thời sự cao.
Ưu điểm của hai phương án tổ chức
này là dễ thực hiện và rẻ tiền. Đây
gần như là phương án bắt buộc khi
chưa đầu tư các hệ thống quản lư
hiệu quả hơn.
Việc tổ chức này trong trường hợp
làm tốt có thể ví với thư viện mà
sách được phân loại theo nội dung
sách c̣n báo và tạp chí th́ phân
loại theo ngày với bảng chỉ dẫn chia
nhỏ ở từng tầng, từng pḥng, giá,
ngăn...
Phương án phân loại thứ ba là phân
loại dữ liệu dựa trên tiêu chí về
dung lượng lưu trữ. Các dữ liệu
chiếm dung lượng lớn như Video,
audio, đồ họa.. sẽ được xếp vào loại
“MEDIA”. Các dữ liệu chiếm dung
lượng bé hơn, phần lớn ở dạng text
sẽ được xếp vào “METADATA”. Mặc dù
Metadata theo định nghĩa là dữ liệu
về dữ liệu, mọi dữ liệu khác với
media đều có thể hiểu cách này hay
cách khác theo nghĩa này.
Phương án phân loại này sẽ mặc định
tạo ra phương án lưu trữ đại trà.
Theo đó Media sẽ được lưu trữ ở các
bộ lưu trữ trung tâm dung lượng lớn
mà không phân mục chi tiết. Ngược
lại Metadata sẽ được tổ chức ở máy
tính riêng với đầy đủ thông tin về
chỉ mục và đường dẫn đến các media
liên quan.
Phương án tổ chức này chỉ có thế
được thực hiện khi sử dụng các hệ
thống quản lư được tổ chức theo cơ
sở dữ liệu (CSDL).
Phương án này giống với việc tổ chức
thư viện theo số sách (số chỉ mục).
Các cuốn sách được xếp theo thứ tự
từ bé đến lớn theo trật tự nhất định.
Cơ sở dữ liệu trong máy tính sẽ cung
cấp cho bạn đọc chi tiết cuốn sách
nào ở tầng nào, pḥng nào, ngăn số
mấy. Việc lựa chọn sách sẽ gói gọn
lại chỉ c̣n là việc lọc các tiêu chí
về cuốn sách ḿnh cần để có được nơi
lưu trữ và t́m đến địa chỉ của cuốn
sách để lấy sách.
Theo phương án này, toàn bộ dữ liệu
metadata sẽ được lưu trữ ở CSDL.
Toàn bộ media sẽ được lưu trữ trên
các thiết bị lưu trữ trung tâm và
trong các vật liệu mang thông tin
khác như đĩa cứng offline, đĩa quang,
băng LTO hoặc các băng ghi video và
thẻ nhớ.
Phương án này chính là phương án mà
toàn bộ ngành truyền h́nh trên thế
giới đang theo đuổi và cũng chính là
chiến trường của hàng chục hăng phần
mềm và tích hợp hệ thống với hàng
chục sản phẩm khác nhau nhưng giống
nhau ở một điểm: Không một sản phẩm
nào được đóng gói hoàn chỉnh đến mức
có thể triển khai ở bất kỳ nhà đài
nào với đầy đủ tính năng thiết kế mà
không phải sửa mă nguồn phần mềm
(code) !
b. TỔ CHỨC LƯU TRỮ MEDIA
Phương án tổ chức lưu trữ Media đă
được các chuyên gia trong ngành
truyền h́nh gần đây mổ xẻ rất nhiều
trong các bài báo trên tập san Khoa
Học Kỹ thuật Truyền h́nh. Trước hết,
về mặt đặc điểm lưu trữ, phần lớn
các tác giả đều nhất trí về việc tổ
chức thành 2 hệ thống lưu trữ vật lư:
• Hệ thống thiên về lưu trữ tư liệu
với tốc độ bít lớn- đến 3Gbps cho
một ḍng dữ liệu chương tŕnh. Định
dạng lưu trữ ở đây phụ thuộc vào
loại tư liệu và gắn chặt với mạng
SXCT tốc độ cao để thực hiện việc
chia sẻ tư liệu và tạo môi trường
cộng tác giữa các biên tập viên và
đạo diễn ở khâu SXCT.
• Hệ thống thứ hai thiên về lưu trữ
chương tŕnh hoàn chỉnh, theo đó các
chương tŕnh hoàn chỉnh sẽ được nén
lại theo định dạng MPEG-2 Long GOP
để lưu trữ lâu dài và để phát sóng.
Tốc độ bít của mạng này không cần
vượt quá 50 Mbps cho một ḍng chương
tŕnh HDVT và 15 Mbps cho SDTV. Để
đảm bảo chất lượng, thông thường
MPEG-2 4:2:2 Long GOP là lựa chọn
hợp lư.
Ngoài hai hệ thống chính trên, cần
phải nhắc tới hệ thống lưu trữ thứ 3
– Lowress. Do không chiếm nhiều
không gian lưu trữ nên việc tổ chức
lưu trữ nó cũng không phức tạp nên
thường ít được nhắc tới. Trong phần
lớn trường hợp, Lowress thường được
tổ chức riêng trên Streaming Server
và đi kèm với dịch vụ WEB của hệ
thống.
Đối với cả 03 hệ thống trên, cần
thiết phải tổ chức việc lưu trữ
backup và lâu dài. Về cơ bản, có các
mô h́nh sau:
Disk only
Disk to Disk
Disk to Tape
Disk to Disk to Tape (D2D2T)
Phần lớn các đài hiện đang ở giai
đoạn Disk only.
Disk to Disk đang sử dụng ở phần lớn
các kênh lớn với nội dung phát sóng
hiện tại được lưu trên Server phát
sóng, đồng thời được lưu trữ trên
NAS.
Trên thực tế, LTO đă trở thành chuẩn
backup không chỉ của ngành truyền
h́nh mà của toàn bộ ngành IT của thế
giới. Với xu thế tất yếu đó, phần
lớn các đài sẽ dần chuyển sang giải
pháp Disk to Disk to Tape. Đài có
đầu tư lớn sẽ sử dụng Tủ băng tự
động. Đài có đầu tư nhỏ hơn sẽ sử
dụng mỗi đầu ghi băng LTO cùng với
nhiều tủ hút ẩm. Băng LTO5 hiện tại
cho phép lưu trữ lên tới 1.6TB trên
một băng duy nhất. Cần phải để ư
rằng, phần lớn TNS của đài truyền
h́nh đă được nén tối đa nên không
thể dùng tiện ích nén của LTO trong
quá tŕnh lưu trữ băng. Băng LTO5
thường được quảng cáo với dung lượng
3.2 TB có nén. Nếu nén lại video -
audio, dung lượng lưu trữ thay v́
giảm lại c̣n bị tăng cao (!) tức
chúng ta sẽ bị thiệt khi lưu trữ.
Sự khác biệt rất lớn giữa backup của
truyền h́nh và của IT tạo nên sự
khác biệt trong giải pháp lưu trữ
backup. Mục đích của lưu trữ backup
của IT là đưa server trở lại trạng
thái trước khi có vấn đề với số
lượng dữ liệu mới bị mất mát càng ít
càng tốt. Ngược lại, lưu trữ backup
của truyền h́nh không quan tâm tới
trạng thái của server mà chỉ quan
tâm tới TNS - dữ liệu trong server.
Chính v́ lẽ đó, giải pháp backup cho
truyền h́nh cũng khác nhiều so với
IT. Mục tiêu backup của truyền h́nh
là lưu càng nhiều bản sao của cùng
một TNS trên càng nhiều máy khác
nhau hay trên càng nhiều băng LTO
khác nhau càng an toàn. Hơn nữa,
toàn bộ TNS của Đài phải được backup
lên nhiều vị trí ngay lập tức khi nó
vừa được tạo ra th́ mới đáp ứng được
yêu cầu về an toàn tài nguyên của
đài.
c. LƯU TRỮ META DATA
Metadata có ư nghĩa sống c̣n đối với
Đài truyền h́nh. Một khi đă sử dụng
hệ thống quản lư CSDL, nếu hệ thống
chỉ mục này không hoạt động th́ toàn
bộ hệ thống sẽ bị tê liệt. Chính v́
lẽ đó, nó không thể ngưng hoạt động
trong bất kỳ hoàn cảnh nào.
Thiết kế phức tạp nhất cho CSDL với
khả năng cung cấp dịch vụ cho số
lượng lớn truy cập được thực hiện
thông qua các hệ máy tính bó
(clustering). Các máy tính bó phải
được tổ chức trong mạng Fiber
Channel được bảo vệ kép dữ liệu và
nhờ đó, nhiều máy t́nh cùng chia sẻ
nhau dữ liệu duy nhất. Các yêu cầu
từ bên ngoài gửi đến hệ thống máy
tính bó sẽ được chia đều tải trên
các máy tính xử lư. Giải pháp này
đắt đỏ và dư thừa công suất so với
yêu cầu của một đài truyền h́nh nên
thông thường khó t́m thấy trong thực
tế. Hiện tại chỉ có các đơn vị
truyền h́nh cáp, với yêu cầu truy
cập CSDL lớn và số lượng bản ghi lên
đến mức hàng triệu bản ghi mới cần
đến CSDL loại này. Với sự tăng
trưởng nhanh chóng của TNS của các
đài, sự cần thiết phải sử dụng đến
giải pháp này có thể cũng cũng không
c̣n xa.
Giải pháp đơn giản và tiết kiệm nhất
hiện nay để giải quyết bài toán tổ
chức CSDL là sử dụng CSDL mirrowing.
Theo phương án tổ chức này, 2 máy
tính giống nhau được bô trí thành
hai CSDL độc lập. Tại một thời điểm
chỉ có một CSDL họat động, tuy nhiên,
dữ liệu của CSDL được liên tục cập
nhật lên máy thứ 2. Có thể bố trí
nhiều hơn 1 máy mirrowing với nhiều
chế độ mirowing khác nhau. Các chế
độ khác nhau sẽ khác nhau ở thời
gian và cách thức mà CSDL mirrowing
được cập nhật thông tin theo CSDL
chính đang chạy.
Phương án sử dụng CSDL mirrowing
hiện đang được sử dụng rộng răi cho
các kênh lớn ở VN.
3. TỔ CHỨC CÔNG VIỆC VỚI HỆ THỐNG
QUẢN LƯ TÀI NGUYÊN SỐ
a. QUY TR̀NH CÔNG VIỆC CHUNG
Với việc đưa vào sử dụng hệ thống
CSDL để quản lư tài nguyên số, công
việc ở đài sẽ có thay đổi lớn về bản
chất. CSDL sẽ bao trùm lên mọi hoạt
động của Đài. Sẽ không c̣n cần thiết
phải sử dụng các cây thư mục trong
các hệ thống lưu trữ cũng như không
cần thiết phải thực hiện việc chia
sẻ các thư mục dùng chung trên mạng.
Mỗi vị trí làm việc sẽ chỉ biết tới
công việc của ḿnh và chỉ cần biết
tới tổ chức lưu trữ cục bộ của máy
mà không cần quan tâm đến bên ngoài.
Hệ thống quản lư sẽ phải làm toàn bộ
các dịch vụ cần thiết để phục vụ
nhanh chóng mọi yêu cầu của người sử
dụng hệ thống cho dù người đó là
giám đốc, biên tập viên hay kỹ thuật
dựng. Sơ đồ lưu chuyển công việc
dưới đây phản ánh phần nào quy tŕnh
công việc chính của Đài sau khi thực
hiện việc quản lư tài nguyên:
b. QUY TR̀NH CÔNG VIỆC CHO LĂNH ĐẠO
Lănh đạo đơn vị bắt đầu bằng việc
duyệt tin bài, kịch bản. Hệ thống
quản lư sẽ sàng lọc để hiển thị cho
lănh đạo thứ tự ưu tiên của tin bài,
kịch bản cần duyệt. Kịch bản được
duyệt sẽ được biết đến ngay lập tức
trên toàn hệ thống và nhờ đó cả hệ
thống có thể khởi động để thực hiện
chương tŕnh. Chương tŕnh thực hiện
xong sẽ phải khai báo cho hệ thống
để hệ thống biết được vệ sự tồn tại
của chương tŕnh mới. Nếu việc khai
báo đă được thực hiện trước đó để
phục vụ mục tiêu xếp lịch phát sóng
trước, sau khi thực hiện chương
tŕnh xong, cần thiết phải tạo kết
nối giữa metadata đă khai báo và
media. Việc khai báo sẽ cho phép hệ
thống quản lư có được đầy đủ thông
tin chính xác về media. Việc khai
báo metadata phải được thực hiện bởi
biên tập và kỹ thuật dựng.
Chương tŕnh hoàn chỉnh chờ lên sóng
sẽ phải qua công đoạn kiểm tra trước
khi lên sóng cuối cùng cua Tổng biên
tập hoặc đơn vị kiểm duyệt. Một
chương tŕnh không thể được lên sóng
cho đến khi có dấu kiểm duyệt cuối
cùng này.
B. QUY TR̀NH CÔNG VIỆC CHO BIÊN TẬP
Với hệ thống quản lư TNS, công việc
của biên tập sẽ được giảm nhẹ và
năng suất lao động sẽ được tăng
cường đáng kể.
Với khả năng truy cập ngay lập tức
vào kho TNS của Đài, biên tập viên
có thể biết chính xác ngay lập tức
thứ ḿnh đang có trong Đài, các nội
dung tương tự đă được thể hiện và
các tư liệu về vấn đề ḿnh quan tâm.
Thay v́ mất rất nhiều thời gian t́m
kiếm băng và xem băng, biên tập viên
có thể lựa chọn tư liệu hoặc chương
tŕnh hoàn chỉnh theo tiêu chí lọc
tin mà ḿnh đưa ra. Việc t́m kiếm
thông tin trong CSDL là cực kỳ hiệu
quả và nhanh chóng.
Với hệ thống lowress được thiết lập
như là một dịch vụ của hệ thống quản
lư TNS, biên tập viên có thể xem nội
dung của bất kỳ chương tŕnh hay tư
liệu nào trực tiếp từ máy tính của
ḿnh. Nhờ đó, giảm được đang kể thời
gian chọn tư liệu và tăng cao được
năng suất và chất lượng chương tŕnh.
Lowress có thể được tổ chức như là
file phát qua mạng hoặc như video
được streaming qua mạng. Lowress cho
phép giảm đáng kể chi phí cho hệ
thống mạng, cho máy tính biên tập và
giảm đáng kể chi phí khai thác, vận
hành do không hao tổn các vật tư đắt
tiền trong quá tŕnh khai thác tư
liệu.
Thông thường, sau khi đánh dấu đoạn
quan tâm, hệ thống quản lư sẽ có
trách nhiệm chuyển đoạn file yêu cầu
vào thư mục cần để phục vụ việc dựng
h́nh.
Sau đây là quy tŕnh công việc của
Biên tập:
C. QUY TR̀NH CÔNG VIỆC CHO KỸ THUẬT
DỰNG
Trong hệ thống TNS được quản lư chặt
chẽ, công việc của kỹ thuật dựng thu
gọn vào việc chính của ḿnh. Quy
tŕnh được thể hiện như sau:
D. QUY TR̀NH CÔNG VIỆC CHO BIÊN TẬP
KÊNH
Công tác biên tập kênh hoàn toàn dựa
trên CSDL chương tŕnh của hệ thống.
Với các chương tŕnh có đầy đủ
metadata và media trong hệ thống,
biên tập viên kênh chỉ cần tạo
playlist với sự trợ giúp của CSDL
với các động tác kéo thả, chèn cắt
đoạn quen thuộc.
Với các chương tŕnh chưa có media
trong hệ thống. Để biên tập kênh có
thể làm việc được, các biên tập
chương tŕnh phải khai báo trước
metadata của các chương tŕnh ḿnh
đang làm hay sắp làm. Các metadata
này không có link đến media nên bị
xếp vào loại trống (Dummy). Sau khi
chương tŕnh được hoàn tất, các số
liệu được khai báo ước định trước
như độ dài chương tŕnh, mark in,
mark out sẽ được tự động sửa lại để
đúng với thực tế.
Thông thường để đảm bảo quy tŕnh
quản lư, mặc dù playlist có thể được
tạo cho bất kỳ ngày nào và từ bất kỳ
máy tính nào trong hệ thống quản lư
TNS, hệ thống sẽ hạn chế, chỉ cho
phép máy tính phát sóng được quyền
thay đổi playlist ở ngày cuối cùng
khi lên sóng. Các máy khác không
được phép sửa chữa playlist của ngày
hiện tại.
E. QUY TR̀NH QUẢN LƯ QUẢNG CÁO.
Hệ thống quản lư quảng cáo có nhiều
dữ liệu liên quan tới kế toán và
công tác kinh doanh của Đài như
doanh số và khách hàng nên cần được
tổ chức riêng với CSDL riêng nhưng
phải có trao đổi mật thiết với CSDL
phát sóng.
Quy tŕnh quản lư quảng cáo gắn với
hệ thống quản lư TNS được mô tả như
sau:
1. Các công ty book quảng cáo sẽ
chuyển các băng quảng cáo hoặc đĩa
CD/DVD chứa các clip quảng cáo đến
trung tâm. Các clip quảng cáo của
các công ty sẽ được được ghi vào
server. Sẽ khuyến khích các công ty
đưa clip gốc đến bằng file MPEG-2
4:2:2 tốc độ bít từ 10 đến 15 Mbps
để đảm bảo chất lượng tín hiệu cao
nhất và loại bỏ việc sử dụng băng,
giảm tải cho đầu đọc băng. Các file
này sau khi kiểm tra được chuyển vào
server phát sóng. Các clips khác
nhau sẽ có mă khác nhau. Mă clips
trùng với mă băng
2. Các clip quảng cáo của các công
ty sẽ được cập nhật vào cơ sở dữ
liệu. Các clip này có thể được xem
lại ngay trên màn h́nh video ở vị
trí của nhân viên lập lịch và vị trí
của nhân viên nhập clips vào hệ
thống.
3. Book quảng cáo sẽ dựa vào các bản
booking. Một khi có booking, dữ liệu
về booking sẽ được cập nhật vào sơ
sở dữ liệu booking. Nội dung cập
nhật bao gồm một số thông tin cơ bản
như: Đơn vị book quảng cáo, Mă đơn
vị book quảng cáo, các mă thời gian
book cho từng ngày, mă clips
book,... Chương tŕnh sẽ hỗ trợ đơn
giản hóa việc book dài hạn ở mă thời
gian cố định.
4. Web server sẽ được bố trí và đặt
kết nối lên trang chủ của Đài, cho
phép khách hàng sử dụng mă công ty
và mật khẩu của ḿnh để xem lịch
book quảng cáo của ḿnh. Thông tin
hiển thị có thể lựa chọn theo tiêu
chí tất cả các quảng cáo hay chỉ
quảng cáo cho một sản phẩm. Thông
tin được hiển thị bao gồm thông tin
về mă thời gian/ kết hợp hoặc không
kết hợp với thời gian dự kiến lên
sóng cùng tên chương tŕnh phát sóng
trước và sau quảng cáo. Một số thông
tin khác có thể được cấp thêm tùy
theo t́nh h́nh khai thác thực tế sau
này và tùy theo yêu cầu hợp lư của
khách hàng.
5. Máy tính lập lịch sẽ lập lịch
phát sóng cho các kênh dựa trên CSDL
booking quảng cáo và các clip đă
được đưa vào hệ thống.
6. Các đoạn quảng cáo (playlist) có
thể được sửa lại ngay trước giờ phát
sóng. Tuy nhiên để đảm bảo tính ổn
định của hệ thống phát sóng, các
thay đổi ở ngày phát sóng phải được
thực hiện ở TKC. Những ngày chưa
phát sóng có thể được thay đổi từ
bất kỳ máy tính lập lịch nào.
7. Đến giờ phát sóng quảng cáo, hệ
thống phát sóng tự động của các kênh
có automation sẽ tự động lên sóng
quảng cáo.
8. Mỗi khi phát xong một clips, hệ
thống phát sóng sẽ tự động ghi lại
thời điểm thực phát, thời lượng thực
phát, tên clips và một vài đặc trưng
khác để phục vụ mục đích kiểm tra và
billing. Ghi chép này gọi là
AS-RUN-LOG.
9. Hệ thống ghi h́nh bằng chứng phát
sóng sẽ ghi lại tín hiệu phát sóng
từ anten. Mỗi ngày, hệ thống sẽ ghi
lại 01 file với độ phân giải thấp,
tốc độ bít khoảng 100kbps tiêu chuẩn
WM9. File ghi được này có thể tiếp
cận tự do trong mạng của Đài.
10. Phần mềm kiểm tra tín hiệu đă
phát sóng sẽ kết hợp AS-RUN-LOG với
file ghi h́nh bằng chứng phát sóng
để xem lại bất kỳ clips nào đă được
phát sóng ở một ngày bất kỳ.
11. Phần mềm xác nhận book quảng cáo
sẽ dựa trên AS-RUN-LOG và danh mục
thực tế phát sóng từ xe màu để đánh
dấu các clips đă được phát sóng
trong hệ thống book lịch quảng cáo
phục vụ cho mục đích kiểm tra, in
báo cáo, thống kê và kế toán.
4. VẤN ĐỀ AN NINH MẠNG TRONG GIAI
ĐOẠN MỚI.
Việc tổ chức hệ thống quản lư TNS sẽ
tạo kết nối mạng các hệ thống hiện
tại c̣n hoạt động riêng rẽ của các
đài: Hệ thống dựng h́nh, hệ thống
máy tính biên tập, hệ thống phát
sóng và internet.
Việc tổ chức các mạng độc lập, không
có kết nối ra ngoài, cấm các cổng dữ
liệu và cấm trao đổi dữ liệu không
c̣n hợp với thời kỳ mới.
Thực tế chúng ta phải chấp nhận đánh
đổi khi quyết định sử dụng hệ thống
quản lư TNS giữa an toàn phát sóng
và tiện ích với hiệu suất công việc.
Lợi ích bao giờ cũng đi liền với rủi
ro. Chúng ta chấp nhận rủi ro th́ sẽ
đạt được một số lợi ích nhất định.
Trong trường hợp xấu nhất, cần tính
tới khả năng bị hacker xâm nhập và
cố gắng sửa đổi chương tŕnh phát
sóng.
Tuy nhiên, có sự khác biệt về cơ bản
giữa hệ thống tin học phục vụ truyền
h́nh và một hệ thống máy chủ trên
mạng. Phần lớn các máy chủ trên mạng
hoạt động một cách tự động và không
cần người giám sát. Các hệ thống
phát sóng có rất nhiều người giám
sát hoạt động của nó. Tối thiểu luôn
có một người trực phát sóng. Bất kỳ
sự đột nhập nào vào hệ thống gây
thay đổi cho hệ thống đều dễ dàng bị
phát hiện kịp thời và nhờ đó, giảm
thiểu được tác hại của nó.
Việc chấp nhận rủi ro cũng như các
ngân hàng chấp nhận rủi ro khi cho
khách hàng kết nối qua internet vào
hệ thống máy tính của ngân hàng.
Chúng ta chỉ cần ư thức được rui ro
để có đầu tư thích đáng cho an ninh
mạng trong hoàn cảnh mới. Nhất quyết
không thể triển khai các hệ thống
quản lư TNS mà không đi kèm theo đầu
tư nghiêm túc cho hệ thống an ninh
như tường lửa, router hoặc switcher
lớp 3 và hệ thống phần mềm
antivirus.
Một số thiết bị không nên cài
antivirus do hiệu suất công việc bị
suy giảm, như các bộ dựng phi tuyến.
Một số khác không cho phép cài
antivirus do hệ thống không thể chấp
nhận các phần mềm có ưu tiên cao như
phần mềm diệt virus như các server
phát sóng hay ghi h́nh. Đối trường
hợp đó, thông thường cần thiết phải
sử dụng máy tính từ bên ngoài để
kiểm soát và quét virus trên các
thiết bị đặc chủng đó.
Để chống virus, một giải pháp tương
đối hiệu quả là sử dụng nhiều hệ
điều hành trong cùng hệ thống. Giải
pháp này dựa trên thực tế là các
phần mềm phá hoại thường không thể
di chuyển giữa các hệ điều hành khác
nhau. Nếu một số thiết bị trọng yếu
sử dụng hệ điều hành khác biệt với
hệ điều hành sử dụng ở Ban biên tập-
đơn vị dễ bị các phần mềm phá hoại
thâm nhập nhất th́ hệ thống sẽ dễ
dàng vượt qua các đợt lây nhiễm
virus ở Ban biên tập.
5. LỜI KẾT.
Với lợi ích thiết thực từ việc tin
học hóa và trào lưu tin học hóa ở
tất cả các Đài truyền h́nh, việc sử
dụng CSDL để quản lư TNS chỉ c̣n là
vấn đề kinh phí. Với đội ngũ tin học
đông đảo trong cộng đồng truyền
h́nh, tôi tin rằng, các hệ thống
quản lư TNS sẽ sớm được triển khai
rộng răi trên toàn quốc để tăng hiệu
quả công việc của các Đài và giảm
được nguy cơ mất sóng, nguy cơ mất
tư liệu hay mất mát chương tŕnh
truyền h́nh. Với các sản phẩm nội
sẵn có, hiệu quả quản lư sẽ được
tăng cao hơn nữa do giao diện thân
thiện với người sử dụng và nhờ quy
tŕnh công việc sát với đặc thù của
Ngành truyền h́nh Việt nam.
Dr. Nguyễn Huyền Diệu
Công ty TNHH HD Việt nam.
|